SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 (GV: Trần Thị Thu Hoài - Trường TH Lê Lợi)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 (GV: Trần Thị Thu Hoài - Trường TH Lê Lợi)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 2
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................................. 2
2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................................................... 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................................................... 3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu............................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................................ 3
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU................................................................................................. 3
1. Cơ sở lý luận........................................................................................................................................ 3
2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................................................. 5
3. Các biện pháp...................................................................................................................................... 9
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG............................................................................................ 18
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................................... 23
1. Kết luận................................................................................................................................................ 23
2. Kiến nghị............................................................................................................................................. 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................... 26
PHỤ LỤC................................................................................................................................................ 27
2
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tập đọc là phân môn có vị trí hàng đầu trong môn Tiếng Việt ở bậc
Tiểu học. Khi đọc, cần đọc đúng, đọc đạt tốc độ, đọc có ý thức, đọc diễn cảm
chứ không phải đơn thuần chỉ là đọc thành tiếng, từ mà tách rời nghĩa nó ra
khỏi quá trình đọc. Tập đọc không chỉ giúp cho học sinh phát triển kĩ năng
đọc mà còn giúp cho học sinh thông hiểu văn bản đọc. Đọc và hiểu là hai
nhiệm vụ của phân môn tập đọc luôn luôn song hành và không thể tách rời
nhau. Chúng luôn tác động qua lại lẫn nhau. Có đọc tốt thì mới hiểu đúng và
có hiểu đúng thì mới đọc tốt. Chỉ khi hiểu sâu sắc, thấu đáo văn bản đọc thì
các em mới thực sự lĩnh hội được tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác
chứa đựng trong văn bản. Từ biết cách đọc hiểu văn bản, học sinh dần dần có
khả năng tự đọc, tự tham khảo để mở rộng kiến thức về cuộc sống, tạo nên sự
hứng thú với việc đọc sách, tự học thường xuyên.
Hiện nay nhà trường tiểu học đang từng bước đổi mới phương pháp dạy
các môn học nói chung, môn Tiếng Việt nói riêng và đặc biệt là nâng cao chất
lượng dạy đọc hiểu trong giờ Tập đọc. Song qua qua nhiều năm trực tiếp
giảng dạy ở trường mình công tác, tôi thấy hiệu quả giờ dạy Tập đọc không
cao, kĩ năng đọc hiểu của học sinh còn nhiều hạn chế. Trong quá trình dạy,
nhiều giáo viên coi nhiệm vụ giờ Tập đọc chỉ là luyện đọc đúng và đọc lưu
loát. Các bước lên lớp của giáo viên còn công thức, hệ thống câu hỏi tìm hiểu
bài đơn điệu, máy móc, chưa phát huy được tính tích cực sáng tạo của học
sinh dẫn đến các em tiếp thu bài một cách thụ động.
Trước thực tế trên tôi luôn suy nghĩ cần phải làm gì đó để giờ Tập đọc
thực sự có hiệu quả, đạt được mục đích của tiết dạy, góp phần rèn luyện năng
lực đọc hiểu cho học sinh. Mặt khác, tôi luôn mong muốn trau dồi nghiệp vụ,
nâng cao trình độ chuyên môn, trao đổi cùng đồng nghiệp để đưa ra biện pháp
khắc phục tồn tại và xây dựng phương pháp hữu hiệu giúp cho việc dạy học
phân môn Tập đọc có chất lượng cao.
3
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài "Một số biện pháp rèn kĩ năng
đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3" để tìm hiểu và nghiên
cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập đọc nói chung và dạy
đọc hiểu nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Biện pháp nhằm mục đích giúp giờ Tập đọc thực sự có hiệu quả, đạt
được yêu cầu của tiết dạy, góp phần rèn luyện năng lực đọc hiểu cho học sinh.
Mặt khác đưa ra biện pháp khắc phục tồn tại và xây dựng phương pháp hữu
hiệu giúp cho việc dạy học phân môn Tập đọc có chất lượng cao.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm ra được những khó khăn và hạn chế của học sinh thường mắc phải
và có biện pháp cụ thể để rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho
học sinh lớp 3.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3.
- Học sinh lớp 3A1 và 3A2 trường Tiểu học Lê Lợi.
5. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2021 đến tháng 4/2022.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận; phương pháp điều tra, khảo sát;
phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động; phương pháp thử nghiệm;
phương pháp thống kê toán học.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận
Tập đọc có vị trí hàng đầu ở bậc tiểu học. Dạy tốt phân môn Tập đọc
đáp ứng một trong bốn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Với tư cách là một phân
môn thực hành, tập đọc hình thành và rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh: đọc
4
đúng, đọc nhanh, đọc chính xác, rõ ràng, mạch lạc và đọc diễn cảm. Từ đó
học sinh sẽ có những hiểu biết về ngôn ngữ, văn học.
Dạy phân môn Tập đọc không chỉ yêu cầu học sinh rèn luyện kĩ năng
đọc văn bản mà đòi hỏi học sinh phải thông hiểu văn bản. Vì vậy dạy tập đọc
có ý nghĩa vô cùng to lớn ở tiểu học. Nó trở thành một trong những mục tiêu
quan trọng khi dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.
Đọc là một dạng hoạt động lời nói, là quá trình tiếp nhận chữ viết của
từ, chuyển dạng thức chữ viết thành lời nói có âm thanh và thông hiểu nó, là
quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không
có âm thanh, cả hai hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm không thể tách rời
việc hiểu những gì được đọc.
Dạy đọc hiểu chính là dạy đọc có ý thức, hiệu quả của đọc hiểu được
đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Kết quả của đọc hiểu phải
giúp học sinh hiểu nghĩa của từ và cụm từ, câu, đoạn, bài là toàn bộ những gì
được đọc.
Đọc hiểu có tác động qua lại lẫn nhau, đầu tiên là để nắm được phần
nào đó của văn bản. Từ cách hiểu của mình, học sinh thể hiện qua việc đọc
thành tiếng thể hiện giọng đọc đúng, phù hợp với tính cách con người trong
tác phẩm với nội dung tác phẩm. Vì vậy trong quá trình dạy tập đọc người
giáo viên phải kết hợp chặt chẽ quá trình đọc và quá trình hiểu.
Mục đích của dạy đọc hiểu là hình thành ở học sinh kĩ năng, kĩ xảo đọc
hiểu. Kĩ xảo đọc hiểu là yếu tố của kĩ năng được tự động hoá. Hình thức kĩ
xảo đọc hiểu là giúp học sinh hiểu được văn bản đọc một cách chính xác trên
cơ sở học sinh nắm được hệ thống ngữ âm chuẩn từ đó học sinh thực hiện các
thao tác tư duy để tìm ra nội dung của văn bản.
Dạy đọc hiểu là một bộ phận quan trọng trong phương pháp dạy học
tập đọc, nó hình thành kĩ năng đọc và giúp học sinh cảm thụ văn bản. Từ đó
phát triển tư duy sáng tạo, phát triển trí tuệ óc thẩm mĩ, giáo dục tư tưởng, đạo
đức và giáo dục lao động ở học sinh.
5
Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập
lâu dài. Việc hình thành kĩ năng được chia làm ba giai đoạn: phân tích, tổng
hợp, tự động hóa. Giai đoạn học vẫn là sự phân tích các chữ cái và đọc thành
tiếng theo âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc nhanh cả từ trọn vẹn, trong đó sự
tiếp nhận “ từ” bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa.
Tiếp theo là sự thông hiểu ý nghĩa của “ từ” trong cụm từ, câu đi trước sự phát
âm, tức là đọc được thực hiện trong sự đoán nghĩ. Mà ở lớp 2, 3 học sinh bắt
đầu đọc tổng hợp. Ngày nay dạy tập đọc quan tâm hơn tới sự hình thành kĩ
năng đọc và kĩ năng làm việc với văn bản, nghĩa là đòi hỏi tổ chức giờ dạy
sao cho việc phân tích nội dung của bài tập đọc đồng thời hướng đến việc
hoàn thiện kĩ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc. Việc đọc như thế
nhằm vào sự nhận thức. Chỉ có thể xem đứa trẻ biết đọc khi nó đọc được và
hiểu được điều mình đọc, đọc là hiểu nghĩa của chữ viết.
Quá trình hiểu văn bản gồm các bước:
+ Hiểu các từ, các ngữ.
+ Hiểu các câu.
+ Hiểu các khối đoạn.
+ Hiểu được cả bài.
Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những điều
mình đọc, mà khi chưa hiểu thì đọc không đúng yêu cầu. Đây là cơ sở để tôi đề xuất
"Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3"
2. Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi tiến hành điều tra thực tế việc dạy
tập đọc ở trường tôi nói chung và lớp 3 nói riêng và đã thu được một số điều
đáng lưu ý sau:
2.1. Quan điểm của Giáo viên về giờ dạy Tập đọc ở lớp 3
Nhìn chung giáo viên rất coi trọng giờ tập đọc: Trong 2 nhiệm vụ của
giờ tập đọc, có người cho rằng thời gian tìm hiểu bài và thời gian luyện đọc
như nhau. Có người lại cho rằng luyện đọc nhiều hơn...
6
Trong quá trình tìm hiểu bài, giáo viên bám sát sách giáo khoa, trung
thành với câu hỏi trong sách giáo khoa và bài tập (100%). Giải thích từ khó bằng
lời chiếm 70% còn 30% giáo viên sử dụng trực quan minh họa để học sinh tự
tìm hiểu và giải thích. Vấn đề tìm hiểu nghệ thuật có trong bài tập đọc ít được đề
cập đến, đa số giáo viên cho rằng đó là yêu cầu quá cao đối với học sinh lớp 3.
2.2. Thực trạng dạy phần tìm hiểu bài trong giờ Tập đọc
Qua điều tra tôi thấy cách tiến hành giờ dạy tập đọc có hai phần chính.
Tùy theo mỗi bài có thể dạy phần tìm hiểu bài trước hoặc sau phần tập đọc,
cũng có khi dạy hai phần này đan xen nhau và phần tìm hiểu bài giáo kết hợp
các phương pháp truyền thống: Hỏi, đáp, gợi mở trực quan, nêu vấn đề, thảo
luận, luyện tập.
2.3. Trình tự dạy một tiết Tập đọc lớp 3
Sau khi dự giờ tập đọc lớp 3, tôi thấy giờ tập đọc dạy trong 40 phút và
được giáo viên lên lớp với trình tự:
A. Kiểm tra bài cũ (Khởi động)
B. Bài mới:
1. Giới thiệu bài (dùng lời hoặc hình ảnh).
2. Hướng dẫn đọc:
- GV đọc diễn cảm toàn bài
- GV hướng dẫn học sinh luyện, kết hợp giải nghĩa từ:
+ Đọc từng câu.
Học sinh nối tiếp nhau đọc từng câu. Giáo viên sửa lỗi phát âm cho học sinh.
+ Đọc từng đoạn trước lớp.
Một vài học sinh đọc tiếp nối nhau đọc từng đoạn trong bài, giáo viên
giúp học sinh nắm nghĩa các từ mới.
+ Đọc từng đoạn trong nhóm.
Từng cặp học sinh đọc và góp ý cho nhau về cách đọc. Giáo viên theo
dõi hướng dẫn các nhóm đọc đúng.
Cả lớp đọc đồng thanh một đoạn hoặc cả bài.
7
3. Hướng dẫn tìm hiểu bài
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc thầm và tìm hiểu bài dựa theo câu
hỏi, bài tập đọc trong sách giáo khoa.
4. Luyện đọc lại/Học thuộc lòng.
- Giáo viên đọc diễn cảm từng đoạn hoặc cả bài.
- Giáo viên lưu ý học sinh về giọng điệu chung của đoạn hoặc bài,
những câu cần chú ý.
- Từng học sinh hoặc nhóm học sinh thi đọc. Giáo viên uốn nắn cách
đọc cho học sinh.
- Hướng dẫn học thuộc lòng (Nếu sách giáo khoa yêu cầu).
C. Củng cố - Dặn dò:
Giáo viên đặt một số câu hỏi để củng cố kiến thức cho học sinh.
2.4. Khảo sát
* Để tìm hiểu thực trạng giờ dạy tập đọc trong trường, tôi tiến hành
khảo sát học sinh đọc thành tiếng và làm bài đọc hiểu (bài viết) ở hai lớp 3A1
và 3A2 (Học sinh ở hai lớp có trình độ tương đối đồng đều nhau)
- Thời gian khảo sát sáng kiến: Ngày 10 tháng 9 năm 2021
- Đề khảo sát trình bày ở phần phụ lục
* Kết quả đạt được như sau:
- Kết quả khảo sát đọc thành tiếng
Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
SL % SL % SL %
3A2 (TN) 40 10 25 23 57,5 7 17,5
3A1 40 11 27,5 22 55 7 17,5
- Kết quả khảo sát đọc hiểu
Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
SL % SL % SL %
3A2 (TN) 40 8 20 21 52,5 11 27,5
3A1 40 9 22,5 21 52,5 10 25
8
* Kết luận:
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu, điều tra thực tế, tôi rút ra kết luận sau:
- Về phía giáo viên: Nhìn chung giáo viên đều coi trọng giờ tập đọc, đều xác định
rõ được ý nghĩa và nhiệm vụ chính của giờ dạy tập đọc. Trước yêu cầu đổi mới của
phương pháp dạy học, đa số giáo viên đã biết lựa chọn các hoạt động phù hợp với từng
bài, biết phối hợp giữa phương pháp cổ truyền với phương pháp mới, lấy học sinh làm
trung tâm sử dụng phiếu bài tập khi cần thiết 1 cách hợp lý, linh hoạt.
Bên cạnh đó, một số giáo viên trình độ còn hạn chế chưa xác định
nhiệm vụ của giờ tập đọc, biến giờ tập đọc thành giờ giảng văn, coi nhẹ phần
đọc hiểu. Quen với phương pháp cũ, tiếp nhận phương pháp mới chưa đầy đủ,
nên giờ tập đọc giáo viên nhiều khi đã tách rời việc luyện đọc và tìm hiểu bài
dẫn đến hai hoạt động này không hỗ trợ được cho nhau, làm cho học sinh đọc
rõ ràng lưu loát mà không hiểu nội dung bài đọc.
Đa số giáo viên phụ thuộc vào sách giáo khoa hướng dẫn, coi sách làm
chuẩn mà chưa biết xử lý linh hoạt, sửa đổi, tổ chức lại câu hỏi cho phù hợp
với trình độ học sinh. Khi đọc mẫu còn phát âm ngọng phụ âm đầu L-N, đồng
thời giáo viên còn lúng túng trong việc phối hợp hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài
với trả lời bài tập. Bên cạnh đó chưa khai thác được hết vẻ đặc sắc của từng
bài, nhiều câu hỏi bài tập có tính chất áp đặt, hạn chế sáng tạo của học sinh,
chưa hợp lý với nội dung cần tìm hiểu của bài. Việc sử dụng đồ dùng dạy học
chưa hợp lý, nhiều khi lạm dụng đồ dùng trực quan làm phân tán sự tập trung
chú ý của học sinh vào bài dạy. Tranh ảnh minh họa còn ít, chất lượng không
cao dẫn đễn việc khai thác nội dung bài qua tranh còn bị hạn chế
- Về phía học sinh: Trong mỗi giờ tập đọc học sinh rất thích khi được tập đọc
bài mà ít chú ý đến việc suy nghĩ tìm hiểu bài. Vì vậy các em thường quan tâm đến đọc
nhanh, đúng, đọc diễn cảm nhiều hơn là tìm hiểu từ ngữ, nội dung bài đọc. Khi trả lời
câu hỏi các em phụ thuộc nhiều vào sách giáo khoa, chứ không chọn lọc ra ý để trả lời,
chưa biết diễn đạt thành câu văn. Học sinh tiếp thu bài không đầy đủ, hiểu bài hời hợt,
9
không nắm được nội dung bài một cách sâu sắc, chưa cảm nhận được cái hay, cái đẹp
của tác phẩm, chưa vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
3. Các biện pháp
3.1. Giúp học sinh hiểu từ ngữ của văn bản đọc
Có thế nói việc tìm hiểu bài bắt đầu từ việc hiểu từ, rèn cho học sinh kĩ
năng hiểu từ ngữ chính là đã giúp các em có khái niệm ban đầu về đặc điểm
của ngôn ngữ nghệ thuật, biết lựa chọn cách hiểu đúng nghĩa của từ được
dùng trong một văn cảnh cụ thể của một bài văn, bài thơ.
3.1.1. Phân chia các loại từ ngữ cần tìm hiểu
Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn Tập đọc, tôi thấy có thể chia
những từ để giảng làm 2 loại: loại từ khó và loại từ khoá
- Từ khó: có thể là từ mới mà các em chưa gặp, khó hiểu (VD: từ "đồi
mồi" trong bài "Cửa Tùng", từ "sơ tán" trong bài "Đôi bạn", từ "bùi nhùi"
trong bài " Người đi săn và con vượn" ) , tên địa danh (VD: địa danh "Bến
Hải" trong bài "Cửa Tùng", địa danh "Ê-ti-ô-pi-a" trong bài "Đất quý đất
yêu" ) hay từ địa phương ("ông ké" trong bài " Người liên lạc nhỏ", "sắp
nhỏ" trong bài "Nắng phương Nam", "trâm bầu" trong bài " Cô giáo tí
hon" ), từ Hán Việt (VD: từ "công đường" trong bài "Mồ Côi xử kiện" ...).
Loại từ này thường có trong phần chú giải cho nên tôi kết hợp khi luyện đọc
đoạn cho học sinh đọc phần chú giải để học sinh hiểu ngay được những từ này
khi bắt đầu tiếp xúc với bài Tập đọc.
- Từ khóa: đó là những từ làm toát lên chủ đề của bài tập đọc. Đây là
những từ có “sức nặng”, tôi khai thác triệt để làm rõ nội dung bài học, thường
thì tôi hay kết hợp giảng từ khóa trong quá trình tìm hiểu bài. (VD: "giọng
quê hương" trong bài "Giọng quê hương", "hai bàn tay" trong bài " Hũ bạc
của người cha" )
3.1.2. Làm rõ nghĩa của từ ngữ
Khi giảng nghĩa của từ cần đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể, hướng vào
chủ đề bài học, không giảng quá rộng, quá sâu. Cần sử dụng nhiều biện pháp
10
giải nghĩa khác nhau, lựa chọn biện pháp giải nghĩa cho phù hợp với từng từ,
phù hợp với vai trò của từ trong bài Tập đọc như:
- Đọc phần giải nghĩa (chú giải) trong sách giáo khoa.
- Cũng có khi các từ khó lại không được giải thích ở phần chú giải thì
cần đặt vấn đề, tình huống để học sinh tìm hiểu. Về phương diện này, giáo
viên phải chuẩn bị sẵn sàng để giải đáp cho học sinh bất cứ từ nào trong bài
mà học sinh đưa ra.
- Dùng lời nói, động tác hoặc cử chỉ để miêu tả sự vật, đặc điểm được
biểu thị ở từ cần được giải nghĩa. VD: Nói nhỏ vào tai một bạn khác để giải
nghĩa từ "thì thào".
- Sử dụng đồ dùng dạy học, trực quan như: trình chiếu, mô hình, tranh
vẽ, vật thật để giải nghĩa từ.
- Đặt câu với từ cần giải nghĩa.
- Tìm từ đồng nghĩa hoặc từ trái nghĩa với từ cần giải nghĩa.
- Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa từ ngữ trong bài Tập đọc cần chú ý:
+ Đối với từ nhiều nghĩa, việc giải nghĩa cần có giới hạn ở nghĩa cụ thể
trong bài tập đọc, không mở rộng ra nhiều nghĩa xa lạ.
+ Đối với những từ được dùng theo nghĩa lâm thời, ví dụ như từ "bạch
kim" trong cụm từ "mái tóc bạch kim của sóng biển", bài "Cửa Tùng": cho
học sinh hiểu nghĩa là trắng sáng, không hiểu thành kim loại quý, màu trắng.
+ Không giải nghĩa quá nhiều từ hoặc giải nghĩa từ ngữ một cách quá
cầu kì, gây lãng phí thời gian làm cho giờ học nặng nề.
+ Những từ ngữ còn lại, nếu học sinh nào chưa hiểu, chú ý giải thích
riêng cho học sinh đó hoặc tạo điều kiện để các bạn khác giải thích giúp,
không nhất thiết phải đưa ra giải thích chung cho cả lớp.
3.2. Khắc phục, điều chỉnh những hạn chế của câu hỏi đọc hiểu
trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3
3.2.1. Thống kê, phân loại hệ thống câu hỏi, bài tập đọc hiểu trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 3
11
Mỗi bài tập đọc thường có 3-5 câu hỏi và có các loại câu hỏi, bài tập
nhận diện, cắt nghĩa và phản hồi.
* Câu hỏi nhận diện: thường đứng ở vị trí số 1, 2 trong hệ thống câu
hỏi, bài tập trong sách giáo khoa. Những câu hỏi này yêu cầu học sinh tái hiện
các hình ảnh, câu văn, ý của đoạn văn, tái hiện nội dung, nghệ thuật của bài,
yêu cầu trình độ tư duy thấp ở học sinh.
VD:
- Cô giáo ra cho lớp đề văn thế nào? (Câu 1, bài "Bài tập làm văn")
- Kể tên những cảnh vật được tả trong bài thơ (Câu 1, bài "Vẽ quê hương")
- Tìm những câu thơ cho thấy:
a) Việt Bắc rất đẹp
b) Việt Bắc đánh giặc giỏi (Câu 2, bài "Nhớ Việt Bắc")
- Vẻ đẹp của người Việt Bắc được thể hiện qua những câu thơ nào?
(Câu 3, bài "Nhớ Việt Bắc")
- Tìm câu nêu rõ lí lẽ của bác nông dân. (Câu 2, bài "Mồ côi xử kiện")
- Anh Đom Đóm lên đèn đi đâu? (Câu 1, bài "Anh đom đóm")
- Nêu những tội ác của giặc ngoại xâm đối với dân ta. (Câu 1, bài Hai Bà Trưng)
*Câu hỏi cắt nghĩa: Thường đứng ở vị trí số 3, 4 trong hệ thống câu
hỏi, bài tập. Những câu hỏi này yêu cầu học sinh giải thích ý nghĩa của từ, câu
văn, đoạn văn yêu cầu học sinh phải tư duy
VD:
- Nêu cách hiểu của em về mỗi câu thơ trong khổ thơ 2 (Câu 2, bài "Tiếng ru")
- Em hiểu thế nào là "Bà chúa của các bãi tắm"? (Câu 2, bài "Cửa Tùng")
- Em hiểu câu nói của người bố như thế nào? (Câu 4, bài "Đôi bạn")
* Câu hỏi phản hồi: thường đứng ở vị trí cuối trong hệ thống câu hỏi, bài tập.
Những câu hỏi này nhằm phát hiện mục đích của tác giả, ý nghĩa, nội
dung bài, giúp học sinh tìm mối liên hệ giữa người đọc với người viết, yêu
cầu trình độ tư duy cao.
VD:
12
- Theo em, mỗi bạn có điểm gì đáng khen? (Câu 5, bài "Ai có lỗi?")
- Câu chuyện muốn nói với em điều gì? (Câu 5, bài "Trận bóng dưới
lòng đường")
- Theo em, phong tục trên nói lên tình cảm của người Ê-ti-ô-pi-a với
quê hương như thế nào? (Câu 4, bài "Đất quý, đất yêu")
- Theo em, vì sao Y-éc-xanh ởi lại Nha Trang? (Câu 5, bài "Bác sĩ Y-
éc-xanh")
* Câu hỏi bài tập yêu cầu lựa chọn ( trắc nghiệm)
- Chọn ý đúng nhất nói lên nội dung câu chuyện:
a) Người mẹ là người dũng cảm.
b) Người mẹ không sợ Thần Chết.
c) Người mẹ có thể hi sinh tất cả vì con. (Câu 4, bài " Người mẹ")
- Chọn một tên khác cho truyện theo gợi ý dưới đây:
a) Những đứa trẻ tốt bụng
b) Chia sẻ
c) Cảm ơn các cháu (Câu 5, bài "Các em nhỏ và cụ già")
- Vì sao bức tranh quê hương rất đẹp? Chọn câu trả lời em cho là đúng nhất:
a) Vì quê hương rất đẹp.
b) Vì bạn nhỏ trong bài thơ vẽ rất giỏi.
c) Vì bạn nhỏ yêu quê hương.
3.2.2. Nhận xét câu hỏi và bài tập
* Ưu điểm: Nhìn chung hệ thống câu hỏi, bài tập đọc hiểu trong sách
giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 đưa ra đều thỏa mãn được các yêu cầu:
- Tính vừa sức
- Tính khái quát
- Tính hệ thống
- Tính phát triển
- Tính thẩm mĩ
Nhiều câu hỏi trong bài rất thú vị, ví dụ:
13
- Vì sao bạn nhỏ gọi ông ngoại là người thầy đầu tiên? (Câu 4, bài " Ông ngoại")
- Vì sao mọi người, mọi vật bận mà vui? (Câu 4, bài "Bận")
- Vì sao các bạn chọn cành mai làm quà tết cho Vân? (Câu 4, bài
"Nắng phương Nam")
- Câu chuyện muốn nói với em điều gì? (Câu 5, bài "Trận bóng dưới lòng đường")
- Em hiểu thế nào là "Bà chúa của các bãi tắm"? (Câu 2, bài "Cửa Tùng")
- Em muốn nói gì với các bạn học sinh trong câu chuyện này? (Câu 4,
bài "Gặp gỡ ở Lúc-xăm-bua")
Với những câu hỏi gợi mở trên, học sinh có thể phát biểu những ý kiến của
mình trước một hình ảnh đẹp, trước một biện pháp nghệ thuật, hoặc nói
lên suy nghĩ của mình về một vấn đề trong bài.
* Nhược điểm
- Một số câu hỏi trong sách còn mang tính chất áp đặt, câu hỏi đón đầu
làm mất tính tư duy của học sinh.
VD: Bài “Hai bàn tay em” (Tiếng Việt 3 - Tập 1)
+ Câu 1: Hai bàn tay của bé được so sánh với gì? (khổ thơ 1)
Câu hỏi đặt như vậy không thật hay, hơi thô và cũng không nhất thiết
phải ghi rõ khổ thơ 1 như trên.
+ Câu 2: Hai bàn tay thân thiết với bé như thế nào?
Câu hỏi trên lệ thuộc khá máy móc vào văn bản thơ và được tạo lập
một cách khiên cưỡng.
- Hệ thống câu hỏi đưa ra trong bài chủ yếu yêu cầu học sinh tái hiện
lại nội dung bài đọc:
VD: Bài " Ai có lỗi ?" (Tiếng Việt 3 - Tập 1)
Câu 1: Vì sao hai bạn nhỏ giận nhau?
Câu 2: Vì sao En – ri – cô hối hận, muốn xin lỗi Cô – rét – ti?
Câu 3: Hai bạn đã làm lành với nhau ra sao?
Câu 4: Bố đã trách mắng En – ri – cô thế nào?
Câu 5: Theo em, mỗi bạn có điểm gì đáng khen?
14
Câu 5 là câu hỏi duy nhất đòi hỏi học sinh phải động não trước khi trả lời.
- Một số câu hỏi đưa ra còn vụng về, mục đích không rõ ràng khiến học
sinh lúng túng
VD: Bài "Đối đáp với vua" (Tiếng Việt 3 - Tập 2)
Câu 5: Cậu đối như thế nào?
Học sinh lúng túng giữa việc lựa chọn câu trả lời: nêu nguyên vẹn lại
câu đối của Cao Bá Quát hay nhận xét cách cậu bé đối với Vua.
3.2.3. Khắc phục, điều chỉnh những hạn chế của câu hỏi đọc hiểu trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 3
* Điều chỉnh những câu hỏi diễn đạt vụng về: Hệ thống câu hỏi, bài tập
trong sách giáo khoa có những câu hỏi mà câu chữ diễn đạt thô, hình ảnh tối nghĩa
hay mục đích không rõ ràng, khó xác định được câu trả lời phù hợp.
Ví dụ:
Bài "Hai bàn tay em" (Tiếng Việt 3 - Tập 1)
+ Câu 1: Hai bàn tay của bé được so sánh với gì? (khổ thơ 1)
Câu hỏi đặt như vậy không thật hay, hơi thô và cũng không nhất thiết
phải ghi rõ khổ thơ 1 như trên.
Giáo viên có thể tổ chức lại bằng cách hỏi :“Hai bàn tay của bé được
so sánh với những hình ảnh nào trong bài thơ?”. Học sinh có thể trả lời là:
“Hai bàn tay bé được so sánh như hoa đầu cành.”
+ Câu 2: Hai bàn tay thân thiết với bé như thế nào?
Câu hỏi trên lệ thuộc khá máy móc vào văn bản thơ và được tạo lập một
cách khiên cưỡng. Vẫn nội dung ấy, giáo viên có thể đặt câu hỏi: “Hai bàn tay đã
giúp bé làm những việc gì?”. Câu trả lời sẽ là: “Hai bàn tay giúp bé ngủ ngon
giấc, giúp bé đánh răng, chải tóc, viết bài.” Và trên cơ sở đó giáo viên có thể đi
tới kết luận rằng: “Hai bàn tay rất thân thiết đối với bé.”Hoặc dựa trên câu trả lời
đã thu được, giáo viên tiếp tục đặt ra câu hỏi để học sinh đi tới kết luận cần
thiết: “Hai bàn tay đối với bé như thế nào?” (Rất gần gũi, thân thiết).
Bài "Đối đáp với vua" (Tiếng Việt 3 - Tập 2)
15
Câu 5: Cậu đối như thế nào?
Học sinh lúng túng giữa việc lựa chọn câu trả lời: nêu nguyên vẹn lại
câu đối của Cao Bá Quát hay nhận xét cách cậu bé đối với Vua.
Có thể hỏi để rõ nghĩa hơn qua 2 ý hỏi sau : Cậu đã đối lại nhà vua
những gì? Nhận xét về vế đối đó. (Cậu đã đối lại nhà vua: Trời nắng chang
chang người trói người. Vế đối ấy vừa cứng cỏi, vừa rất chỉnh, biểu lộ sự
nhanh trí, thông minh.)
Bài "Ở lại với chiến khu" (Tiếng Việt 3 - Tập 2)
Câu 4. Lời nói của Mừng có gì đáng cảm động?
Lời nói của Mừng rất cảm động nên để học sinh tự rút ra chứ không
phải một kết luận có sẵn. Hơn nữa hỏi như trên với ngữ liệu cho trong bài,
học sinh rất khó trả lời. Vì vậy tôi điều chỉnh thành câu hỏi sau:
Câu 4: Em có cảm nhận gì về lời nói của Mừng với trung đoàn trưởng?
( Lời nói rất cảm động, tha thiết cho thấy bạn rất ngây thơ, chân thật.)
Bài “Ai có lỗi?” (Tiếng Việt 3 - Tập 1)
Hệ thống câu hỏi đưa ra trong bài chủ yếu yêu cầu học sinh tái hiện lại
nội dung bài đọc:
Câu 1: Vì sao hai bạn nhỏ giận nhau?
Câu 2: Vì sao En – ri – cô hối hận, muốn xin lỗi Cô – rét – ti?
Câu 3: Hai bạn đã làm lành với nhau ra sao?
Câu 4: Bố đã trách mắng En – ri – cô thế nào?
Câu 5: Theo em, mỗi bạn có điểm gì đáng khen?
Câu 5 là câu hỏi duy nhất đòi hỏi học sinh phải động não trước khi trả
lời. Thật ra, với bài này, giáo viên có thể đặt ra nhiều câu hỏi hay, ví dụ như:
- Tại sao bố lại trách mắng En – ri – cô? (Vì bố rất nghiêm khắc, muốn
bạn lần sau không mắc lại lỗi như vậy nữa hoặc Vì bố muốn bạn cư xử tốt
hơn đối với bạn bè.)
- Hãy đặt một tên khác cho câu chuyện? (Có thể là Tình bạn; Ai đáng
khen?; Sự tha thứ; )
16
Bài “Hai Bà Trưng” (Tiếng Việt 3 - Tập 2)
Khi đọc hệ thống câu hỏi trong bài kết hợp kiến thức giáo viên đã nắm
chắc về diễn biến, nội dung bài ta sẽ thấy từ câu 4 chuyển sang câu 5 bị đột
ngột khiến học sinh bị hẫng khi tìm hiểu bài.
Câu 1. Nêu những tội ác của giặc ngoại xâm đối với dân ta.
Câu 2. Hai Bà Trưng có tài và có chí lớn như thế nào?
Câu 3. Vì sao Hai Bà Trưng khởi nghĩa?
Câu 4. Hãy tìm những chi tiết nói lên khí thế của đoàn quân khởi nghĩa.
Câu 5. Vì sao bao đời nay nhân dân ta tôn kính Hai Bà Trưng?
Chúng ta có thể thêm câu hỏi vào sau câu hỏi 4 : Em hãy nêu kết quả
của cuộc khởi nghĩa.
* Giảm độ khó của câu hỏi
Nghiên cứu các câu hỏi đọc hiểu trong sách giáo khoa tôi thấy một số
câu hỏi là câu hỏi cắt nghĩa hoặc phản hồi tương đối khó đối với đa số học
sinh. Tôi mạnh dạn giảm độ khó của chúng bằng cách gợi ý hoặc chia nhỏ câu
hỏi trong sách giáo khoa, đôi lúc tôi sử dụng bài tập trắc nghiệm. Cũng có thể
cho học sinh thảo luận trong nhóm để tìm ra câu trả lời.
Ví dụ: Bài "Bài hát trồng cây" (Tiếng Việt 3 - Tập 2)
Câu 3. Những từ ngữ nào được lặp lại trong bài thơ? Cách lặp ấy có
tác dụng gì?
Ý 2 của câu hỏi này tương đối khó với học sinh lớp 3. Tôi gợi ý cho
học sinh thông qua cách hỏi trắc nghiệm
Đánh dấu x vào ô trống trước ý đúng.
Cách gọi ấy có tác dụng gì?
Nhấn mạnh lợi ích của việc trồng cây và giúp người đọc dễ nhớ, dễ
thuộc bài thơ.
Nhắc nhở mọi người ghi nhớ công lao của người trồng cây.
Nhắc các bạn nhỏ phải biết yêu cây xanh, không bẻ cành, vặt lá.
Ví dụ: Bài "Mặt trời xanh của tôi " (Tiếng Việt 3 - Tập 2)
17
Câu 3. Vì sao tác giả thấy lá cọ giống như mặt trời?
Tôi gợi ý cho học sinh thông qua cách hỏi trắc nghiệm
Đánh dấu x vào ô trống trước ý đúng.
Vì sao tác giả thấy lá cọ giống như mặt trời?
Vì lá cọ hình quạt, xòe ra như những tia nắng mặt trời.
Vì lá cọ hình tròn như mặt trời.
Vì lá cọ sáng đẹp như mặt trời.
Như vậy với từng bài dạy, theo cách tổ chức này, học sinh được hoạt động
nhiều trong giờ học một cách chủ động, tích cực, không bị phụ thuộc vào những điều
có sẵn. Phương thức thảo luận, tranh luận, trình bày trước lớp giúp các em thể hiện
bản thân, tạo điều kiện giao lưu tốt giữa người học với giáo viên làm cho học sinh
phấn khởi, tích cực hoạt động tự học và thi đua học tập.
3.3. Hướng dẫn học sinh phát hiện thủ pháp nghệ thuật trong bài học
Một văn bản (văn, thơ) được lựa chọn dạy trong chương trình Tập đọc
lớp 3 thường hay về nội dung và đẹp về nghệ thuật. Để giúp học sinh hiểu sâu
về nội dung bài học, tiếp nhận vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của văn bản, giáo
viên hướng dẫn học sinh phát hiện được những tín hiệu nghệ thuật và đánh
giá được giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Ở lớp 3, học sinh
được học về biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa. Trong các bài tập đọc,
những biện pháp này rất nhiều lần được sử dụng và có tính nghệ thuật cao.
Ví dụ:
- Trong bài “Hai bàn tay em” (Tiếng Việt 3 - Tập 1) có hình ảnh so sánh
" Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành"
Khi học sinh phát hiện được biện pháp so sánh, thì ta nên hỏi thêm để học
sinh cảm nhận được hết vẻ đẹp của hai bàn tay em khi được so sánh như vậy.
VD : Qua hình ảnh so sánh đó, em hình dung bàn tay bạn nhỏ thế nào?
(xinh xắn, dễ thương, thơm tho, đáng yêu )
- Trong bài “Về quê ngoại” (Tiếng Việt 3 - Tập 1) có hình ảnh so sánh
18
"Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm"
Trăng được so sánh như lá thuyền trôi khiến ta hình dung trăng lưỡi
liềm nhẹ nhàng, bồng bềnh trôi êm đềm trên bầu trời đêm mênh mông.
- Trong bài “Cửa Tùng” (Tiếng Việt 3 - Tập 1) có hình ảnh so sánh rất đặc
sắc : " Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như chiếc lược đồi mồi cài vào mái
tóc bạch kim của sóng biển." Giáo viên gợi cho học sinh hiểu: Sóng nơi Cửa Tùng cứ
ngày đêm vỗ bờ rồi lại trở về biển khơi khiến bờ biển Cửa Tùng nhìn xa như một chiếc
lược đồi mồi với những đường vân vô cùng đẹp mắt. Và khi sóng xô bờ trắng xóa,
người ta liên tưởng sóng có một mái tóc màu bạch kim. Tất cả đan cài vào nhau tạo
nên vẻ đẹp tuyệt vời của Cửa Tùng.
- Trong bài “Anh đom đóm” (Tiếng Việt 3 - Tập 1) tác giả đã dùng cách gọi
của người để gọi cho vật, tả vật bằng những từ ngữ tả người. Bằng biện pháp nhân
hoá tác giả đã tạo nên một thế giới loài vật sống động. Từ đó học sinh cảm nhận
được thế giới cảnh vật ở nông thôn vào ban đêm thật thú vị.
Tóm lại, đối với từng bài tập đọc, giáo viên phải nắm chắc đặc trưng
của ngôn ngữ trong văn bản, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn bản để
hướng dẫn học sinh phát hiện thủ pháp nghệ thuật của từng bài, hiểu sâu sắc
hơn về nội dung của bài học, nhờ đó vốn sống, trí tưởng tượng, khả năng liên
tưởng, tư duy của học sinh phát triển.
Trên đây là một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc hiểu trong
giờ tập đọc cho học sinh lớp 3. Tuỳ theo từng bài mà giáo viên sử dụng các
biện pháp sao cho phù hợp. Bên cạnh đó, để một giờ học đảm bảo về thời gian
và chất lượng, đòi hỏi học sinh phải đầy đủ tài liệu. Giáo viên phải chuẩn bị
chu đáo về đồ dùng, giáo án cùng với tài nghệ thuật sư phạm của giáo viên, sẽ
làm cho giờ dạy sôi nổi, học sinh hứng thú học tập và đạt được kết quả cao.
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG
Vận dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc hiểu trong giờ
tập đọc lớp 3, tôi tiến hành dạy thực nghiệm ở 2 lớp 3A1 và 3A2 của trường
19
(2 lớp tôi chọn có cùng số học sinh và các em có nhận thức tương đối đồng
đều như nhau).
- Sau một thời gian thực hiện dạy thực nghiệm, tôi đã tiến hành khảo
sát hiệu quả sáng kiến tại hai lớp 3A1 và 3A2.
- Thời gian: Ngày 20 tháng 4 năm 2022.
- Kết quả đạt được như sau:
* Kết quả khảo sát đọc thành tiếng
Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
SL % SL % SL %
3A2 (TN) 40 22 55 18 45 0 0
3A1 40 16 40 21 52,5 3 7,5
* Kết quả khảo sát đọc hiểu
Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
SL % SL % SL %
3A2 (TN) 40 19 47,5 20 50 1 2,5
3A1 40 14 35 21 52,5 5 12,5
(TN: Thực nghiệm)
Dưới đây là một số hình ảnh trong các tiết học Tập đọc của lớp 3A2:
Tập đọc: Nhớ lại buổi đầu đi học (Luyện đọc theo nhóm)
20
Tập đọc: Nhớ lại buổi đầu đi học (Thi đọc thuộc lòng)
Tập đọc: Cửa Tùng (Giới thiệu bài)
Tài liệu đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_hieu_trong_phan_mon_ta.pdf



