SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 phát huy năng lực tự học có hiệu quả (GV: Vũ Thị Hạnh - Trường TH Nguyễn Khắc Nhu)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 phát huy năng lực tự học có hiệu quả (GV: Vũ Thị Hạnh - Trường TH Nguyễn Khắc Nhu)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN KHẮC NHU MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 PHÁT HUY NĂNG LỰC TỰ HỌC CÓ HIỆU QUẢ Họ và tên : Vũ Thị Hạnh Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. TP. Bắc Giang, tháng 3 năm 2024 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 2 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 2 2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 3 4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.................................................... 3 5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ......................................................................... 4 1. Cơ sở lý luận ................................................................................................... 4 2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................ 5 2.1. Thực trạng .................................................................................................................. 5 2.2. Hạn chế ....................................................................................................................... 6 2.3. Nguyên nhân................................................................................................................7 3. Các biện pháp .................................................................................................. 7 3.1. Hướng dẫn học sinh chủ động tìm các tư liệu học tập. ........................................... 7 3. 2. Chú trọng việc hướng dẫn tự học tại nhà cho học sinh. ...................................... 13 3.3. Xây dựng mô hình Đôi bạn cùng tiến. .................................................................... 15 3.4. Khuyến khích phụ huynh đồng hành cùng con trong học tập. ............................. 15 3.5. Động viên, khích lệ, khen thưởng học sinh. ........................................................... 17 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG ..................................................................... 19 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................... 22 1. Kết luận ......................................................................................................... 22 2. Kiến nghị ....................................................................................................... 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 24 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tự học là một trong những năng lực cốt lõi của học sinh trong chương trình giáo dục tổng thể 2018 (Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ giáo dục và Đào tạo). Nhờ có năng lực tự học, người học có thể tự khẳng định bản thân thông qua các thao tác tư duy, ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của chính mình. Tự học giúp học sinh có thể chủ động làm chủ kiến thức, năng động hơn trong mọi hoạt động học tập từ đó làm cho các tiết học diễn ra sôi nổi, đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao. Trong thực tế nhiều năm dạy học tôi nhận thấy: học sinh có tinh thần tự học chưa cao. Số học sinh có tinh thần tự học và biết cách tự học có hiệu quả còn rất hạn chế. Học sinh vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các bài giảng của thầy cô trên lớp. Thời lượng một tiết học trong khoảng 35 - 40 phút, với nhiều kiến thức phong phú, nếu học sinh không tự chủ động tìm hiểu kiến thức trước hoặc không có sự chuẩn bị bài ở nhà thì rất khó hoàn thành tốt yêu cầu cần đạt của một tiết học. Đồng thời, qua theo dõi tiến trình học tập của học sinh tôi thấy rằng với những học sinh có tinh thần tự học các em nắm bắt kiến thức rất nhanh, luôn chủ động và sôi nổi trong các tiết học, có thời gian hỗ trợ thêm cho các bạn học chậm. Ngoài ra, các em còn có thể chia sẻ cho các bạn và thầy cô biết những kiến thức mở rộng có liên quan đến bài học mà các em đã tự tìm tòi, khám phá qua việc tự học trên các phần mền hỗ trợ học tập,... Từ đó, tôi nhận thấy việc giúp học sinh tự học là việc làm vô cùng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Khi trao đổi với học sinh và các đồng nghiệp về vấn đề “Tự học” tôi được biết: Hầu hết các em chưa biết cách tự học và việc tự học của các em chưa đem lại hiệu quả cao là do không có người hướng dẫn cụ thể, chưa biết cách tra cứu tài liệu ở đâu? Một số em học sinh khối lớp 1, 2 chưa được học 3 tin học nên còn bỡ ngỡ với việc sử dụng các thiết bị điện thoại, máy tính để làm bài tập trên các trang học trực tuyến Chính vì những lý do trên tôi mạnh dạn đưa ra: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 phát huy năng lực tự học có hiệu quả.” 2. Mục đích nghiên cứu - Giúp học sinh hình thành và phát triển năng tự học. - Phát triển kĩ năng tìm kiếm, phân tích và tổng hợp thông tin. - Giúp học sinh năng động hơn trong học tập. Tiếp thu và làm chủ kiến thức nhanh chóng. - Tạo hứng thú học tập cho các em, tránh sự nhàm chán đơn điệu. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu. - Khảo sát thực tế, thu thập số liệu, đánh giá mức độ năng lực tự học của học sinh. - Xây dựng các biện pháp nhằm giúp học sinh phát huy năng lực tự học có hiệu quả. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh phát huy năng lực tự học có hiệu quả. - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu (cụ thể học sinh lớp 3A1). 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc các tài liệu có liên quan đến sáng kiến. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Toạ đàm, trao đổi với giáo viên, học sinh và phụ huynh. Quan sát các biểu hiện tự học của học sinh. - Phương pháp điều tra khảo sát. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút kinh nghiệm qua thực tế công tác giảng dạy. 4 - Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm các biện pháp, đối chứng, đánh giá hiệu quả của việc áp các dụng biện pháp đã đề xuất. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Tự học là hình thức học tập quan trọng đối với học sinh, là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian không nhiều khi học ở nhà trường. Tự học giúp tạo ra tri thức bền vững cho các em học sinh bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn. Tự học thể hiện qua cách học sinh biết tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, tham gia vào các trang hướng dẫn học trực tuyến, thi các cuộc thi trên mạng có liên quan đến kiến thức các môn học đã học. Học sinh phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện, tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao. Học tập trên trường lớp chưa đủ điều kiện về thời gian để học sinh nắm chắc chắn những kiến thức mình đã học và việc tự học, ôn tập ở nhà là rất cần thiết. Tự học là kỹ năng mà phụ huynh luôn mong muốn con em mình rèn luyện được. Từ đó, cần phải tìm kiếm, áp dụng những phương pháp giúp học sinh tự học hiệu quả. Căn cứ Thông tư 32/2018/TT – BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Triển khai Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 có ghi tại Mục III, phần 2. Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: “a) Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và 5 hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”. Căn cứ Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học: “Tại mục 1, điều 5, chương II: Tổ chức đánh giá”. Đề cập tới đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh thông qua những phẩm chất chủ yếu và những năng lực cốt lõi như sau: - Những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. - Những năng lực cốt lõi: +) Những năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; +) Những năng lực đặc thù: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất. Qua một số thông tư tôi đã nêu, đều cho thấy việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học là rất cần thiết. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng 2.1.1. Thuận lợi - Hiện tại nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết hiện đại đáp ứng nhu cầu tự học của học sinh: Có phòng thư viện cho học sinh đọc và mượn các loại sách tham khảo. Các lớp được trang bị đầy đủ tivi có kết nối internet. Ban giám hiệu nhà trường đã triển khai đăng kí, tạo tài khoản cho HS sử dụng phần mền học trực tuyến trên trang OLM miễn phí. Đưa môn Tin học vào giảng dạy ở khối lớp 1, 2 ít nhất 1 tiết/tuần ngay từ đầu năm học để học sinh làm quen với công nghệ thông tin, hình thành và phát triển năng lực công nghệ. 6 - Bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp đều có niềm đam mê công việc, quan tâm tới chất lượng giảng dạy, chú trọng rèn luyện phát huy toàn bộ các năng lực, phẩm chất cốt lõi cho học sinh. 2.1.2. Khó khăn - Học sinh chưa có hứng thú với việc học, còn lười, ỷ lại vào thầy cô, cha mẹ. - Học sinh chưa có sự chủ động trong việc tìm kiếm các tư liệu học tập. - Khả năng tự sử dụng các thiết bị để vào làm bài tập hay tra cứu tài liệu trên internet của học sinh còn hạn chế. - Đa số phụ huynh chưa chú ý đến việc tự học ở nhà của học sinh. - Một số học sinh nhận thức chậm, khả năng tự học còn hạn chế. 2.2. Hạn chế Đầu năm học, sau khi nhận lớp được 1 tháng, tôi nhận thấy năng lực tự học của học sinh lớp tôi còn hạn chế. Nắm bắt được thực trạng, tại lớp 3A1 tôi đã tiến hành khảo sát về một số biểu hiện tự học của 34 em học sinh và thu được kết quả: Kết quả khảo sát học sinh lớp 3A1 tại thời điểm tháng 10 năm 2023. Học sinh Học sinh có Học sinh biết Học sinh Học sinh thành có ý thức thói quen chủ động tìm biết chủ thạo các kỹ Tổng tự chuẩn bị đọc sách, tự kiếm tài liệu động tìm năng tự học. số bài ở nhà. nghiên cứu tham khảo. kiếm sự hỗ học tài liệu. trợ từ bạn sinh bè, thầy cô. Số Số Số Số Số % % % % % lượng lượng lượng lượng lượng 34 20 59 15 44 9 26,5 10 29 9 26,5 7 Qua bảng số liệu trên tôi nhận thấy kĩ năng tự học của học sinh lớp tôi còn rất hạn chế. Số lượng học sinh có thói quen đọc sách, tự nghiên cứu tài liệu, học sinh biết chủ động tìm kiếm các tài liệu tham khảo và tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn bè, thầy cô khi gặp khó khăn còn thấp. 2.3. Nguyên nhân - Học sinh còn nhỏ, chưa có ý thức tự giác, thích ham chơi. - Học sinh còn rụt rè, ngại giao tiếp, học hỏi. - GV còn lúng túng trong việc sử dụng phương pháp hướng dẫn học sinh cách tiếp cận tài liệu. - Học sinh còn hạn chế trong việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ học tập như điện thoại, máy tính. - Đa số phụ huynh làm công nhân, chưa có thời gian sát sao đến việc học của con. Nhiều phụ huynh chưa biết cách hỗ trợ con học tập. Từ những nguyên nhân và thực trạng trên tôi đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng một số biện pháp cụ thể nhằm giúp học sinh phát huy năng lực tự học có hiệu quả. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh chủ động tìm các tư liệu học tập. * Tìm kiếm tài liệu học tập tại thư viện nhà trường: Hiện tại, nhà trường có phòng thư viện với số lượng sách tham khảo lớn và dễ tiếp cận, đó là điều kiện thuận lợi để học sinh tìm kiếm các tư liệu hỗ trợ cho việc học, bổ sung kiến thức. Tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, tôi đã chủ động đưa học sinh xuống thư viện, hướng dẫn các em cách mượn sách về đọc. Đầu tiên, tôi chỉ cho các em học sinh thấy lịch đọc - mượn trả sách của thư viện. Lịch mượn sách của lớp tôi là sáng thứ 4 và trả sách vào sáng thứ 6. 8 Giới thiệu lịch đọc - mượn trả sách cho học sinh lớp 3A1 Tiếp đó, tôi hướng dẫn các em lựa chọn những cuốn sách phù hợp với kiến thức và năng lực nhận thức của bản thân. Trong những tuần đầu vào sáng thứ 4, tôi thường xuyên nhắc nhở học sinh xuống thư viện để đổi trả sách nhằm hình thành và duy trì thói quen cho học sinh. Hướng dẫn học sinh lựa chọn đầu sách phù hợp 9 Chỉ trong 2 tuần đầu cần sự hỗ trợ của giáo viên, sang đến tuần tiếp theo các em đã nhớ lịch và tự giác xuống phòng thư viện để mượn sách. Qua trao đổi với đồng chí phụ trách thư viện, tôi được biết các em thực hiện mượn sách theo đúng quy trình, có ý thức giữ gìn sách khi mượn, biết lựa chọn truyện tranh và tài liệu tham khảo phù hợp với lứa tuổi. Đặc biệt các em rất vui và hào hứng mỗi lần xuống mượn sách. Hình ảnh học sinh mượn sách trong thư viện Các em đọc và nghiên cứu sách, truyện mượn ở thư viện vào giờ ra chơi hay các buổi đọc sách đầu giờ dưới sân trường. Kỹ năng tự đọc và nghiên cứu tài liệu dần được hình thành và duy trì qua các buổi đọc sách đầu giờ. * Tìm kiếm tài liệu trên các trang Web học tập. 10 Có rất nhiều trang Web học tập được xây dựng với nhiều hình thức học tập phong phú, đa dạng tiêu biểu là trang OLM. Ngay từ đầu năm học, BGH nhà trường đã quan tâm, hỗ trợ mua phần mềm miễn phí để giáo viên và học sinh có thể vào tìm kiếm các tư liệu học tập có sẵn, tự học và tham khảo bài qua nhiều hình thức: Làm bài tập dưới dạng đề thi trắc nghiệm, xem các video youtube có điểm dừng Tuy nhiên, do học sinh của tôi còn nhỏ và cũng là năm đầu tiên được làm quen với môn tin học nên các thao tác sử dụng với máy tính, điện thoại để tự đăng nhập vào học còn hạn chế. Để khắc phục tình trạng đó, tôi đã nên kế hoạch tạo tài khoản cho toàn bộ học sinh của lớp. Sau đó, tôi cho các con tự ghi nhớ tài khoản đăng nhập và mật khẩu của mình qua việc ghi chép vào sổ tay cá nhân. Trình chiếu trên màn hình tivi, hướng dẫn cụ thể từng bước để học sinh truy cập và đăng nhập vào trang Web, làm bài tập giáo viên giao và tự tham khảo bài học qua kho học liệu OLM. Hình ảnh hướng dẫn học sinh thực hiện truy cập vào trang OLM Để kiểm tra xem học sinh có nhớ được các thao tác mà giáo viên hướng dẫn không tôi cho 1 số học sinh thực hành trên máy tính ngay tại lớp. 11 Khi học sinh đã nắm được các thao tác, tôi tiến hành giao bài và gửi đường link bài tập vào nhóm giao việc để các con làm bài tập ở nhà. Kết quả cho thấy, số học sinh tự giác vào học bài và làm bài là khá cao: đạt 28/34 học sinh chiếm 82%. Bảng thống kê kết quả học sinh làm bài trên OLM Tài liệu học tập trên trang OLM được thiết kế khoa học, dễ hiểu, bám sát chương trình sách giáo khoa, hình thức học tập đa dạng. Với các bài tập trắc nghiệm chỉ từ 7 - 9 câu cho mỗi tiết học, mỗi câu làm xong khi các em nộp bài đều có nhận xét đúng - sai và khen ngợi tạo cho các em hứng thú và không bị nhàm chán mỗi khi học. Từ đó giúp phát huy năng lực tự học của học sinh. 12 Hình ảnh học liệu được thiết kế đa dạng trên trang OLM. Ngoài ra, tôi còn cung cấp cho học sinh một số đường link của các trang Web học tập, tìm kiếm tài liệu miễn phí, uy tín, để các em có thể dễ dàng tìm kiếm tư liệu học tập chuẩn xác. 13 Đường link và giao diện của một số trang Web tự học, tìm kiếm tài liệu trực tuyến. 3. 2. Biện pháp 2: Chú trọng việc hướng dẫn tự học tại nhà cho học sinh. Để một tiết học diễn ra sôi nổi và đạt đúng tiến độ thì việc tự nghiên cứu bài học trước ở nhà là một nhiệm vụ quan trọng. Sau mỗi buổi học, tôi thường gửi phiếu dặn dò nhiệm vụ cần chuẩn bị cho các tiết học của ngày hôm sau và nhiệm vụ học tập của buổi học hôm đó lên nhóm zalo của lớp để phụ huynh nắm bắt, nhắc nhở các em thực hiện. Ví dụ: Sáng thứ Ba, các em có 2 tiết Tiếng Việt bài Chia sẻ và đọc: Ngưỡng cửa. Vào cuối buổi học của ngày thứ Hai, tôi sẽ nhắc các em đọc trước bài và quay video đọc gửi lên nhóm. Đồng thời, tôi gửi vào nhóm giao bài để phụ huynh nắm được và nhắc nhở các em. Lâu dần giúp các em hình thành thói quen tự học ở nhà. Đến thời điểm hiện tại, không cần tôi nhắc nhở cứ đến mỗi tiết đọc các em lại tự quay video gửi lên nhóm. Qua đó, học sinh có thể quan sát, học hỏi cách đọc và cách trả lời của bạn học tốt hơn. Biện pháp này của tôi cũng được phụ huynh rất ủng hộ. 14 Hình ảnh học sinh tự giác gửi bài trên nhóm Chia sẻ từ phía phụ huynh học sinh. 15 3.3. Biện pháp 3. Xây dựng mô hình Đôi bạn cùng tiến. Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, có những bạn nhận thức chậm hơn vì thế khả năng tự học và tự giải quyết vấn đề sẽ gặp khó khăn. Để giải quyết vấn đề trên tôi lựa chọn xây dựng mô hình Đôi bạn cùng tiến. Tôi xếp một bạn có khả năng tự học tốt ngồi cùng một bạn có khả năng tự học chưa cao để các em có thể hỗ trợ nhau trong các hoạt động học tập. Trong các tiết học, tôi cũng tổ chức nhiều hoạt động chia sẻ nhóm đôi để các em có thể tương tác, học tập lẫn nhau. Tôi thường xuyên khuyến khích để các em phát huy tác dụng của Đôi bạn cùng tiến. Từ mô hình trên cũng đã góp phần hình thành phẩm chất nhân ái và phát huy năng lực tự chủ tự học ở học sinh. Hình ảnh Đôi bạn cùng tiến 3.4. Biện pháp 4: Khuyến khích phụ huynh đồng hành cùng con trong học tập. Lứa tuổi của các em còn nhỏ, độ tập trung khi học sẽ không cao, một số em nhận thức chậm, gặp khó khăn với việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ học tập vì thế trong quá trình học tại nhà luôn cần phải có sự đồng hành, quan tâm và sát sao của các bậc phụ huynh. Mỗi bước phát triển trong cuộc đời của một đứa trẻ không thể thiếu bàn tay yêu thương của cha mẹ. Đây là yếu tố quyết định sự thành công của các em. 16 Trong thời gian học tập tại nhà, phụ huynh nên ngồi cùng các em, nhắc nhở các em tư thế ngồi học, hỗ trợ các em kịp thời khi các em gặp khó khăn. Khen ngợi và động viên kịp thời nhằm giúp các em luôn vui vẻ và tự tin trong quá trình học. Khi có phụ huynh tham gia đồng hành các em như có thêm một người bạn để chia sẻ vì thế quá trình học sẽ không bị nhàm chán và mang lại hiệu quả cao. Một số phụ huynh của lớp đã chủ động vào các trang Web học tập, đăng kí tài khoản cho các em tham gia thi đấu trạng nguyên Tiếng Việt, Vioedu để các em rèn luyện và học hỏi thêm kiến thức. Phụ huynh cũng chia sẻ quá trình tham gia học tập cùng con bằng hình ảnh trên zalo nhóm lớp. Qua đó cũng tạo nên “làn sóng” hưởng ứng tích cực của các phụ huynh trong trong việc tham gia học tập cùng con. Hình ảnh phụ huynh tham gia học tập cùng các con tại nhà. 17 3.5. Biện pháp 5: Động viên, khích lệ, khen thưởng học sinh. Khi tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học qua một số tài liệu kết hợp kinh nghiệm giảng dạy tôi nhận thấy khen ngợi là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với các em học sinh. Lời khen giúp các em tạo động lực và cải thiện kết quả học tập. Trong mỗi giờ học, ngoài lời khen dành cho học sinh tôi thường sử dụng thêm một số hình thức khác để động viên, khích lệ học sinh như: tặng Sticker khi các em hoàn thành tốt một nhiệm vụ học tập. Trao phần thưởng cho học sinh bằng những đồ dùng học tập: bút, thước, tẩy và tặng thư khen cho những bạn có thành tích học tập tốt trong buổi sinh hoạt lớp cuối cùng của mỗi tháng. Tất cả những phần thưởng nêu trên tuy nhỏ nhưng các em học sinh rất thích và hăng hái học tập vì tâm lí trẻ nhỏ lúc nào cũng muốn được tặng quà. Khi áp dụng biện pháp động viên, khích lệ, khen thưởng học sinh tôi nhận thấy rằng ý thức tự học của các em tiến bộ rất nhiều. Học sinh vui vẻ dán Sticker được tặng lên bảng thi đua của lớp. 18 Học sinh vui tươi, phấn khởi khi được quà và thư khen. Khi thấy các con trở vể nhà với gương mặt hạnh phúc và có ý thức tự giác học bài hơn, phụ huynh cũng rất vui và ủng hộ biện pháp mà tôi áp dụng. Hình ảnh tin nhắn chia sẻ từ phía phụ huynh của lớp. 19 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG * Kết quả Sau khi tiến hành và duy trì thực hiện các biện pháp với học sinh tại lớp, tôi nhận thấy năng lực tự học của học sinh có sự tiến bộ rõ ràng. Gần như học sinh cả lớp tôi đều có ý thức tự học, tự nghiên cứu bài trước khi đến lớp. Trong tiết học, các em tự tin chia sẻ bài, biết đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết nhiệm vụ học tập tại lớp. Đặc biệt, trong môn Tiếng Việt kĩ năng đọc hiểu và học thuộc lòng các bài thơ được phát huy rất tốt. Mỗi tiết dạy của tôi nhờ đó đều trở nên sôi nổi và đạt hiệu quả cao. Học sinh đọc thuộc lòng bài thơ “Chú Học sinh tự tin trong Hoạt động sắm hải quân” vào cuối tiết học. vai kể chuyện. Học sinh tự giác hỗ trợ nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Tài liệu đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_3_phat_huy_nang_luc.pdf



