SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 phát huy năng lực tự học có hiệu quả (GV: Vũ Thị Hạnh - Trường TH Nguyễn Khắc Nhu)

pdf 25 trang Trang Mi 19/03/2026 10
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 phát huy năng lực tự học có hiệu quả (GV: Vũ Thị Hạnh - Trường TH Nguyễn Khắc Nhu)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN KHẮC NHU 
 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 PHÁT HUY 
 NĂNG LỰC TỰ HỌC CÓ HIỆU QUẢ 
 Họ và tên : Vũ Thị Hạnh 
 Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu, thành phố 
Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. 
 TP. Bắc Giang, tháng 3 năm 2024 
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 2 
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 2 
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 3 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 3 
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.................................................... 3 
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ......................................................................... 4 
1. Cơ sở lý luận ................................................................................................... 4 
2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................ 5 
2.1. Thực trạng .................................................................................................................. 5 
2.2. Hạn chế ....................................................................................................................... 6 
2.3. Nguyên nhân................................................................................................................7 
3. Các biện pháp .................................................................................................. 7 
3.1. Hướng dẫn học sinh chủ động tìm các tư liệu học tập. ........................................... 7 
3. 2. Chú trọng việc hướng dẫn tự học tại nhà cho học sinh. ...................................... 13 
3.3. Xây dựng mô hình Đôi bạn cùng tiến. .................................................................... 15 
3.4. Khuyến khích phụ huynh đồng hành cùng con trong học tập. ............................. 15 
3.5. Động viên, khích lệ, khen thưởng học sinh. ........................................................... 17 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG ..................................................................... 19 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................... 22 
1. Kết luận ......................................................................................................... 22 
2. Kiến nghị ....................................................................................................... 22 
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 24 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Tự học là một trong những năng lực cốt lõi của học sinh trong chương 
trình giáo dục tổng thể 2018 (Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành 
Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ giáo dục và Đào tạo). Nhờ có 
năng lực tự học, người học có thể tự khẳng định bản thân thông qua các thao 
tác tư duy, ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của chính mình. Tự học giúp 
học sinh có thể chủ động làm chủ kiến thức, năng động hơn trong mọi hoạt 
động học tập từ đó làm cho các tiết học diễn ra sôi nổi, đúng tiến độ và đạt 
hiệu quả cao. 
 Trong thực tế nhiều năm dạy học tôi nhận thấy: học sinh có tinh thần tự 
học chưa cao. Số học sinh có tinh thần tự học và biết cách tự học có hiệu quả 
còn rất hạn chế. Học sinh vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các bài giảng của thầy 
cô trên lớp. Thời lượng một tiết học trong khoảng 35 - 40 phút, với nhiều kiến 
thức phong phú, nếu học sinh không tự chủ động tìm hiểu kiến thức trước 
hoặc không có sự chuẩn bị bài ở nhà thì rất khó hoàn thành tốt yêu cầu cần 
đạt của một tiết học. Đồng thời, qua theo dõi tiến trình học tập của học sinh 
tôi thấy rằng với những học sinh có tinh thần tự học các em nắm bắt kiến thức 
rất nhanh, luôn chủ động và sôi nổi trong các tiết học, có thời gian hỗ trợ 
thêm cho các bạn học chậm. Ngoài ra, các em còn có thể chia sẻ cho các bạn 
và thầy cô biết những kiến thức mở rộng có liên quan đến bài học mà các em 
đã tự tìm tòi, khám phá qua việc tự học trên các phần mền hỗ trợ học tập,... 
Từ đó, tôi nhận thấy việc giúp học sinh tự học là việc làm vô cùng cần thiết để 
đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. 
 Khi trao đổi với học sinh và các đồng nghiệp về vấn đề “Tự học” tôi 
được biết: Hầu hết các em chưa biết cách tự học và việc tự học của các em 
chưa đem lại hiệu quả cao là do không có người hướng dẫn cụ thể, chưa biết 
cách tra cứu tài liệu ở đâu? Một số em học sinh khối lớp 1, 2 chưa được học 3 
tin học nên còn bỡ ngỡ với việc sử dụng các thiết bị điện thoại, máy tính để 
làm bài tập trên các trang học trực tuyến 
 Chính vì những lý do trên tôi mạnh dạn đưa ra: “Một số biện pháp giúp 
học sinh lớp 3 phát huy năng lực tự học có hiệu quả.” 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Giúp học sinh hình thành và phát triển năng tự học. 
 - Phát triển kĩ năng tìm kiếm, phân tích và tổng hợp thông tin. 
 - Giúp học sinh năng động hơn trong học tập. Tiếp thu và làm chủ kiến 
thức nhanh chóng. 
 - Tạo hứng thú học tập cho các em, tránh sự nhàm chán đơn điệu. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu. 
 - Khảo sát thực tế, thu thập số liệu, đánh giá mức độ năng lực tự học của 
học sinh. 
 - Xây dựng các biện pháp nhằm giúp học sinh phát huy năng lực tự học 
có hiệu quả. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh phát huy năng lực tự 
học có hiệu quả. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu (cụ 
thể học sinh lớp 3A1). 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 - Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc các tài liệu có liên quan đến sáng kiến. 
 - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Toạ đàm, trao đổi với giáo viên, 
học sinh và phụ huynh. Quan sát các biểu hiện tự học của học sinh. 
 - Phương pháp điều tra khảo sát. 
 - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút kinh nghiệm qua thực tế công 
tác giảng dạy. 4 
 - Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm các biện pháp, đối 
chứng, đánh giá hiệu quả của việc áp các dụng biện pháp đã đề xuất. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Tự học là hình thức học tập quan trọng đối với học sinh, là một giải pháp 
khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ 
thời gian không nhiều khi học ở nhà trường. Tự học giúp tạo ra tri thức bền 
vững cho các em học sinh bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự tìm tòi, 
nghiên cứu và lựa chọn. 
 Tự học thể hiện qua cách học sinh biết tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo 
các loại, nghe radio, truyền hình, tham gia vào các trang hướng dẫn học trực 
tuyến, thi các cuộc thi trên mạng có liên quan đến kiến thức các môn học đã 
học. Học sinh phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm 
quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những 
điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và 
sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện, tự học đòi hỏi phải có 
tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao. 
 Học tập trên trường lớp chưa đủ điều kiện về thời gian để học sinh nắm 
chắc chắn những kiến thức mình đã học và việc tự học, ôn tập ở nhà là rất cần 
thiết. Tự học là kỹ năng mà phụ huynh luôn mong muốn con em mình rèn 
luyện được. Từ đó, cần phải tìm kiếm, áp dụng những phương pháp giúp học 
sinh tự học hiệu quả. 
 Căn cứ Thông tư 32/2018/TT – BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của 
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 
tổng thể 2018 có ghi tại Mục III, phần 2. Chương trình giáo dục phổ thông 
hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: “a) Những 
năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và 5 
hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, 
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”. 
 Căn cứ Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của 
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu 
học: “Tại mục 1, điều 5, chương II: Tổ chức đánh giá”. Đề cập tới đánh giá sự 
hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh thông qua những 
phẩm chất chủ yếu và những năng lực cốt lõi như sau: 
 - Những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, 
trách nhiệm. 
 - Những năng lực cốt lõi: 
 +) Những năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải 
quyết vấn đề và sáng tạo; 
 +) Những năng lực đặc thù: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, 
tin học, thẩm mỹ, thể chất. 
 Qua một số thông tư tôi đã nêu, đều cho thấy việc hình thành và phát 
triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học là rất cần thiết. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng 
 2.1.1. Thuận lợi 
 - Hiện tại nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết hiện đại đáp 
ứng nhu cầu tự học của học sinh: Có phòng thư viện cho học sinh đọc và 
mượn các loại sách tham khảo. Các lớp được trang bị đầy đủ tivi có kết nối 
internet. Ban giám hiệu nhà trường đã triển khai đăng kí, tạo tài khoản cho HS 
sử dụng phần mền học trực tuyến trên trang OLM miễn phí. Đưa môn Tin học 
vào giảng dạy ở khối lớp 1, 2 ít nhất 1 tiết/tuần ngay từ đầu năm học để học 
sinh làm quen với công nghệ thông tin, hình thành và phát triển năng lực công nghệ. 6 
 - Bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp đều có niềm đam mê công việc, 
 quan tâm tới chất lượng giảng dạy, chú trọng rèn luyện phát huy toàn bộ các 
 năng lực, phẩm chất cốt lõi cho học sinh. 
 2.1.2. Khó khăn 
 - Học sinh chưa có hứng thú với việc học, còn lười, ỷ lại vào thầy cô, cha mẹ. 
 - Học sinh chưa có sự chủ động trong việc tìm kiếm các tư liệu học tập. 
 - Khả năng tự sử dụng các thiết bị để vào làm bài tập hay tra cứu tài liệu 
 trên internet của học sinh còn hạn chế. 
 - Đa số phụ huynh chưa chú ý đến việc tự học ở nhà của học sinh. 
 - Một số học sinh nhận thức chậm, khả năng tự học còn hạn chế. 
 2.2. Hạn chế 
 Đầu năm học, sau khi nhận lớp được 1 tháng, tôi nhận thấy năng lực tự 
 học của học sinh lớp tôi còn hạn chế. Nắm bắt được thực trạng, tại lớp 3A1 
 tôi đã tiến hành khảo sát về một số biểu hiện tự học của 34 em học sinh và thu 
 được kết quả: 
 Kết quả khảo sát học sinh lớp 3A1 tại thời điểm tháng 10 năm 2023. 
 Học sinh Học sinh có Học sinh biết Học sinh Học sinh thành 
 có ý thức thói quen chủ động tìm biết chủ thạo các kỹ 
Tổng tự chuẩn bị đọc sách, tự kiếm tài liệu động tìm năng tự học. 
 số bài ở nhà. nghiên cứu tham khảo. kiếm sự hỗ 
học tài liệu. trợ từ bạn 
sinh bè, thầy cô. 
 Số Số Số Số Số % 
 % % % % 
 lượng lượng lượng lượng lượng 
 34 20 59 15 44 9 26,5 10 29 9 26,5 7 
 Qua bảng số liệu trên tôi nhận thấy kĩ năng tự học của học sinh lớp tôi 
còn rất hạn chế. Số lượng học sinh có thói quen đọc sách, tự nghiên cứu tài 
liệu, học sinh biết chủ động tìm kiếm các tài liệu tham khảo và tìm kiếm sự hỗ 
trợ từ bạn bè, thầy cô khi gặp khó khăn còn thấp. 
 2.3. Nguyên nhân 
 - Học sinh còn nhỏ, chưa có ý thức tự giác, thích ham chơi. 
 - Học sinh còn rụt rè, ngại giao tiếp, học hỏi. 
 - GV còn lúng túng trong việc sử dụng phương pháp hướng dẫn học sinh 
cách tiếp cận tài liệu. 
 - Học sinh còn hạn chế trong việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ học tập như 
điện thoại, máy tính. 
 - Đa số phụ huynh làm công nhân, chưa có thời gian sát sao đến việc học 
của con. Nhiều phụ huynh chưa biết cách hỗ trợ con học tập. 
 Từ những nguyên nhân và thực trạng trên tôi đã nghiên cứu và đưa vào 
áp dụng một số biện pháp cụ thể nhằm giúp học sinh phát huy năng lực tự học 
có hiệu quả. 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh chủ động tìm các tư liệu học tập. 
 * Tìm kiếm tài liệu học tập tại thư viện nhà trường: 
 Hiện tại, nhà trường có phòng thư viện với số lượng sách tham khảo lớn 
và dễ tiếp cận, đó là điều kiện thuận lợi để học sinh tìm kiếm các tư liệu hỗ 
trợ cho việc học, bổ sung kiến thức. Tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, tôi đã 
chủ động đưa học sinh xuống thư viện, hướng dẫn các em cách mượn sách về 
đọc. Đầu tiên, tôi chỉ cho các em học sinh thấy lịch đọc - mượn trả sách của 
thư viện. Lịch mượn sách của lớp tôi là sáng thứ 4 và trả sách vào sáng thứ 6. 8 
 Giới thiệu lịch đọc - mượn trả sách cho học sinh lớp 3A1 
 Tiếp đó, tôi hướng dẫn các em lựa chọn những cuốn sách phù hợp với 
kiến thức và năng lực nhận thức của bản thân. Trong những tuần đầu vào sáng 
thứ 4, tôi thường xuyên nhắc nhở học sinh xuống thư viện để đổi trả sách 
nhằm hình thành và duy trì thói quen cho học sinh. 
 Hướng dẫn học sinh lựa chọn đầu sách phù hợp 9 
 Chỉ trong 2 tuần đầu cần sự hỗ trợ của giáo viên, sang đến tuần tiếp theo 
các em đã nhớ lịch và tự giác xuống phòng thư viện để mượn sách. Qua trao 
đổi với đồng chí phụ trách thư viện, tôi được biết các em thực hiện mượn sách 
theo đúng quy trình, có ý thức giữ gìn sách khi mượn, biết lựa chọn truyện 
tranh và tài liệu tham khảo phù hợp với lứa tuổi. Đặc biệt các em rất vui và 
hào hứng mỗi lần xuống mượn sách. 
 Hình ảnh học sinh mượn sách trong thư viện 
 Các em đọc và nghiên cứu sách, truyện mượn ở thư viện vào giờ ra chơi 
hay các buổi đọc sách đầu giờ dưới sân trường. 
 Kỹ năng tự đọc và nghiên cứu tài liệu dần được hình thành và duy trì qua 
các buổi đọc sách đầu giờ. 
 * Tìm kiếm tài liệu trên các trang Web học tập. 
 10 
 Có rất nhiều trang Web học tập được xây dựng với nhiều hình thức học 
tập phong phú, đa dạng tiêu biểu là trang OLM. Ngay từ đầu năm học, BGH 
nhà trường đã quan tâm, hỗ trợ mua phần mềm miễn phí để giáo viên và học 
sinh có thể vào tìm kiếm các tư liệu học tập có sẵn, tự học và tham khảo bài 
qua nhiều hình thức: Làm bài tập dưới dạng đề thi trắc nghiệm, xem các 
video youtube có điểm dừng Tuy nhiên, do học sinh của tôi còn nhỏ và 
cũng là năm đầu tiên được làm quen với môn tin học nên các thao tác sử dụng 
với máy tính, điện thoại để tự đăng nhập vào học còn hạn chế. 
 Để khắc phục tình trạng đó, tôi đã nên kế hoạch tạo tài khoản cho toàn 
bộ học sinh của lớp. Sau đó, tôi cho các con tự ghi nhớ tài khoản đăng nhập 
và mật khẩu của mình qua việc ghi chép vào sổ tay cá nhân. Trình chiếu trên 
màn hình tivi, hướng dẫn cụ thể từng bước để học sinh truy cập và đăng nhập 
vào trang Web, làm bài tập giáo viên giao và tự tham khảo bài học qua kho 
học liệu OLM. 
 Hình ảnh hướng dẫn học sinh thực hiện truy cập vào trang OLM 
 Để kiểm tra xem học sinh có nhớ được các thao tác mà giáo viên hướng 
dẫn không tôi cho 1 số học sinh thực hành trên máy tính ngay tại lớp. 11 
 Khi học sinh đã nắm được các thao tác, tôi tiến hành giao bài và gửi 
đường link bài tập vào nhóm giao việc để các con làm bài tập ở nhà. Kết quả 
cho thấy, số học sinh tự giác vào học bài và làm bài là khá cao: đạt 28/34 học 
sinh chiếm 82%. 
 Bảng thống kê kết quả học sinh làm bài trên OLM 
 Tài liệu học tập trên trang OLM được thiết kế khoa học, dễ hiểu, bám sát 
chương trình sách giáo khoa, hình thức học tập đa dạng. Với các bài tập trắc 
nghiệm chỉ từ 7 - 9 câu cho mỗi tiết học, mỗi câu làm xong khi các em nộp 
bài đều có nhận xét đúng - sai và khen ngợi tạo cho các em hứng thú và 
không bị nhàm chán mỗi khi học. Từ đó giúp phát huy năng lực tự học của 
học sinh. 12 
 Hình ảnh học liệu được thiết kế đa dạng trên trang OLM. 
 Ngoài ra, tôi còn cung cấp cho học sinh một số đường link của các trang 
Web học tập, tìm kiếm tài liệu miễn phí, uy tín, để các em có thể dễ dàng tìm 
kiếm tư liệu học tập chuẩn xác. 
 13 
 Đường link và giao diện của một số trang Web tự học, tìm kiếm tài liệu trực tuyến. 
 3. 2. Biện pháp 2: Chú trọng việc hướng dẫn tự học tại nhà cho học sinh. 
 Để một tiết học diễn ra sôi nổi và đạt đúng tiến độ thì việc tự nghiên cứu 
bài học trước ở nhà là một nhiệm vụ quan trọng. Sau mỗi buổi học, tôi thường 
gửi phiếu dặn dò nhiệm vụ cần chuẩn bị cho các tiết học của ngày hôm sau và 
nhiệm vụ học tập của buổi học hôm đó lên nhóm zalo của lớp để phụ huynh 
nắm bắt, nhắc nhở các em thực hiện. 
 Ví dụ: Sáng thứ Ba, các em có 2 tiết Tiếng Việt bài Chia sẻ và đọc: Ngưỡng cửa. 
 Vào cuối buổi học của ngày thứ Hai, tôi sẽ nhắc các em đọc trước bài và 
quay video đọc gửi lên nhóm. Đồng thời, tôi gửi vào nhóm giao bài để phụ 
huynh nắm được và nhắc nhở các em. Lâu dần giúp các em hình thành thói 
quen tự học ở nhà. Đến thời điểm hiện tại, không cần tôi nhắc nhở cứ đến mỗi 
tiết đọc các em lại tự quay video gửi lên nhóm. Qua đó, học sinh có thể quan 
sát, học hỏi cách đọc và cách trả lời của bạn học tốt hơn. Biện pháp này của 
tôi cũng được phụ huynh rất ủng hộ. 14 
Hình ảnh học sinh tự giác gửi bài trên nhóm 
 Chia sẻ từ phía phụ huynh học sinh. 
 15 
 3.3. Biện pháp 3. Xây dựng mô hình Đôi bạn cùng tiến. 
 Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy trình độ nhận thức của học sinh 
không đồng đều, có những bạn nhận thức chậm hơn vì thế khả năng tự học và 
tự giải quyết vấn đề sẽ gặp khó khăn. Để giải quyết vấn đề trên tôi lựa chọn 
xây dựng mô hình Đôi bạn cùng tiến. Tôi xếp một bạn có khả năng tự học tốt 
ngồi cùng một bạn có khả năng tự học chưa cao để các em có thể hỗ trợ nhau 
trong các hoạt động học tập. Trong các tiết học, tôi cũng tổ chức nhiều hoạt 
động chia sẻ nhóm đôi để các em có thể tương tác, học tập lẫn nhau. Tôi 
thường xuyên khuyến khích để các em phát huy tác dụng của Đôi bạn cùng 
tiến. Từ mô hình trên cũng đã góp phần hình thành phẩm chất nhân ái và phát 
huy năng lực tự chủ tự học ở học sinh. 
 Hình ảnh Đôi bạn cùng tiến 
 3.4. Biện pháp 4: Khuyến khích phụ huynh đồng hành cùng con trong 
học tập. 
 Lứa tuổi của các em còn nhỏ, độ tập trung khi học sẽ không cao, một số 
em nhận thức chậm, gặp khó khăn với việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ học tập 
vì thế trong quá trình học tại nhà luôn cần phải có sự đồng hành, quan tâm và 
sát sao của các bậc phụ huynh. Mỗi bước phát triển trong cuộc đời của một 
đứa trẻ không thể thiếu bàn tay yêu thương của cha mẹ. Đây là yếu tố quyết 
định sự thành công của các em. 16 
 Trong thời gian học tập tại nhà, phụ huynh nên ngồi cùng các em, nhắc 
nhở các em tư thế ngồi học, hỗ trợ các em kịp thời khi các em gặp khó khăn. 
Khen ngợi và động viên kịp thời nhằm giúp các em luôn vui vẻ và tự tin trong 
quá trình học. Khi có phụ huynh tham gia đồng hành các em như có thêm một 
người bạn để chia sẻ vì thế quá trình học sẽ không bị nhàm chán và mang lại 
hiệu quả cao. Một số phụ huynh của lớp đã chủ động vào các trang Web học 
tập, đăng kí tài khoản cho các em tham gia thi đấu trạng nguyên Tiếng Việt, 
Vioedu để các em rèn luyện và học hỏi thêm kiến thức. Phụ huynh cũng 
chia sẻ quá trình tham gia học tập cùng con bằng hình ảnh trên zalo nhóm lớp. 
Qua đó cũng tạo nên “làn sóng” hưởng ứng tích cực của các phụ huynh trong 
trong việc tham gia học tập cùng con. 
 Hình ảnh phụ huynh tham gia học tập cùng các con tại nhà. 17 
 3.5. Biện pháp 5: Động viên, khích lệ, khen thưởng học sinh. 
 Khi tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học qua một số tài liệu 
kết hợp kinh nghiệm giảng dạy tôi nhận thấy khen ngợi là một phần thưởng 
tinh thần to lớn đối với các em học sinh. Lời khen giúp các em tạo động lực và 
cải thiện kết quả học tập. 
 Trong mỗi giờ học, ngoài lời khen dành cho học sinh tôi thường sử dụng 
thêm một số hình thức khác để động viên, khích lệ học sinh như: tặng Sticker 
khi các em hoàn thành tốt một nhiệm vụ học tập. Trao phần thưởng cho học 
sinh bằng những đồ dùng học tập: bút, thước, tẩy và tặng thư khen cho những 
bạn có thành tích học tập tốt trong buổi sinh hoạt lớp cuối cùng của mỗi 
tháng. Tất cả những phần thưởng nêu trên tuy nhỏ nhưng các em học sinh rất 
thích và hăng hái học tập vì tâm lí trẻ nhỏ lúc nào cũng muốn được tặng quà. 
Khi áp dụng biện pháp động viên, khích lệ, khen thưởng học sinh tôi nhận 
thấy rằng ý thức tự học của các em tiến bộ rất nhiều. 
 Học sinh vui vẻ dán Sticker được tặng lên bảng thi đua của lớp. 18 
 Học sinh vui tươi, phấn khởi khi được quà và thư khen. 
 Khi thấy các con trở vể nhà với gương mặt hạnh phúc và có ý thức tự 
giác học bài hơn, phụ huynh cũng rất vui và ủng hộ biện pháp mà tôi áp dụng. 
 Hình ảnh tin nhắn chia sẻ từ phía phụ huynh của lớp. 19 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 * Kết quả 
 Sau khi tiến hành và duy trì thực hiện các biện pháp với học sinh tại lớp, 
tôi nhận thấy năng lực tự học của học sinh có sự tiến bộ rõ ràng. Gần như học 
sinh cả lớp tôi đều có ý thức tự học, tự nghiên cứu bài trước khi đến lớp. 
Trong tiết học, các em tự tin chia sẻ bài, biết đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau để giải 
quyết nhiệm vụ học tập tại lớp. Đặc biệt, trong môn Tiếng Việt kĩ năng đọc 
hiểu và học thuộc lòng các bài thơ được phát huy rất tốt. Mỗi tiết dạy của tôi 
nhờ đó đều trở nên sôi nổi và đạt hiệu quả cao. 
Học sinh đọc thuộc lòng bài thơ “Chú Học sinh tự tin trong Hoạt động sắm 
hải quân” vào cuối tiết học. vai kể chuyện. 
 Học sinh tự giác hỗ trợ nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập. 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_3_phat_huy_nang_luc.pdf