Bài giảng Tiếng Việt 3 (Đọc) Sách Kết nối tri thức - Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng

pptx 34 trang Hoa Bình 12/11/2025 110
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Tiếng Việt 3 (Đọc) Sách Kết nối tri thức - Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 1. Đọc đoạn 1 bài “Nhà rông” và trả lời câu 
hỏi: Đặc điểm nổi bật về hình dạng của nhà 
rông ở Tây Nguyên là gì? Câu văn nào trong 
bài giúp em nhận ra điều đó?
 Đặc điểm nổi bật về hình dạng của nhà rông ở 
 Tây Nguyên là mái nhà dựng đứng, vươn cao 
 lên trời như một lưỡi rìu lật ngược. Câu văn 
 cho biết điều đó là: “ Đến Tây Nguyên, từ xa 
 nhìn vào như một lưỡi rìu lật ngược” 2. Đọc đoạn 2 bài “Nhà rông” và 
nêu nội dung bài.
 Đọc và trả lời câu hỏi: Nhận biết được vẻ đẹp 
 độc đáo của Nhà rông ở Tây Nguyên. Hiểu biết 
 về tình cảm của người dân Tây Nguyên với mái 
 nhà rông thân thương. Thứ .ngày .tháng .năm .
Trung Thu Yêu cầu 
 • Đọc đúng từ ngữ, câu, đoạn và toàn bộ câu chuyện Sự 
 cần đạt tích ông Đùng, bà Đùng. Biết đọc diễn cảm lời của 
 người kể chuyện phù hợp với ngữ điệu, biết nghỉ hơi ở 
 chỗ có dấu câu.
 • Nhận biết được những việc ông Đùng, bà Đùng đã 
 làm giúp dân. Hiểu suy nghĩ, tình cảm của tác giả với 
 ông Đùng, bà Đùng là những người có công lao lớn đối 
 với đất nước trong việc chinh phục thiên nhiên.
 • Hiểu điều tác giả muốn nói qua văn bản giải thích tại 
 sao dòng sông Đà ngoằn ngoèo và có nhiều ghềnh 
 thác.
 • Bước đầu thể hiện cảm xúc qua giọng đọc. LẮNG NGHE 
ĐỌC MẪU
 MẮT DÕI
 TAI NGHE
 TAY DÒ Giọng đọc
 • Đọc diễn cảm một số lời của người kể 
 chuyện khi nói về những hành động, việc 
 làm, kết quả đạt được của ông Đùng, bà 
 Đùng hay nói về đặc điểm của con sông Đà SỰ TÍCH ÔNG ĐÙNG, BÀ ĐÙNG
 Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ 
đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, 
nghĩa là ông bà khổng lổ.
Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, 
ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã 
nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy.
 Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông 
Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc 
suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước 
đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay.
 Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, 
dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác 
ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bày nươi tác, trăm ba mươi ghềnh” 
như bây giờ.
 (Theo Truyện cổ dân tộc Mường) LUYỆN ĐỌC 
 TỪ KHÓ
 chằng ngoằn 
xửa lõm
 chịt ngoèo Luyện đọc
 câu dài
 Chỉ một ngày,/ông bà đã nhổ cây,/ san đất,/ 
 làm thành cánh đồng bằng phẳng,/ rộng rãi, 
 /lấy chỗ cho dân ở, /và cày cấy.// SỰ TÍCH ÔNG ĐÙNG, BÀ ĐÙNG
 Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ đứng 
cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, nghĩa là 
ông bà khổng lổ.
Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, 
ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ 
cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy.
 Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông 
Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc suốt 
ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước đã chảy 
thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay.
 Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, 
dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác 
ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bày nươi tác, trăm ba mươi ghềnh” như 
bây giờ.
 (Theo Truyện cổ dân tộc Mường) SỰ TÍCH ÔNG ĐÙNG, BÀ ĐÙNG
 Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ 
đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, 
nghĩa là ông bà khổng lổ.
Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, 
ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã 
nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy.
 Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông 
Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc 
suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước 
đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay.
 Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, 
dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác 
ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bày nươi tác, trăm ba mươi ghềnh” 
như bây giờ.
 (Theo Truyện cổ dân tộc Mường) SỰ TÍCH ÔNG ĐÙNG, BÀ ĐÙNG
 Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ 
đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, 
nghĩa là ông bà khổng lổ.
Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, 
ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã 
nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy.
 Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông 
Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc 
suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước 
đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay.
 Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, 
dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác 
ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bày nươi tác, trăm ba mươi ghềnh” 
như bây giờ.
 (Theo Truyện cổ dân tộc Mường) Giải nghĩa 
từ khó hiểu
 Trong bài đọc
 "SỰ TÍCH ÔNG ĐÙNG, 
 BÀ ĐÙNG", có từ nào 
 em chưa hiểu nghĩa? Giải nghĩa 
 từ khó hiểu
 Mường Bi
Địa danh thuộc huyện Tân Lạc, 
 tỉnh Hòa Bình.

Tài liệu đính kèm:

  • pptxbai_giang_tieng_viet_3_doc_sach_ket_noi_tri_thuc_bai_22_su_t.pptx